- Aṅguttara Nikāya
- II. Phẩm Tùy Niệm
11.21. Thiền Ðịnh (4)
TTC 1Tại đấy, Tôn giả Sàriputta nói với các Tỷ-kheo:
—Này chư Hiền, có thể chăng một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định… được ý suy tư. Tại đấy, vị ấy có thể không có tưởng; tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng?
—Thưa Hiền giả, chúng tôi từ xa đi đến để được biết ý nghĩa của lời nói này từ Tôn giả Sàriputta. Lành thay, nếu ý nghĩa lời nói này được Tôn giả Sàriputta nói lên. Sau khi nghe Tôn giả Sàriputta, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
—Vậy này chư Hiền, hãy nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.
—Thưa vâng, Hiền giả, các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:
TTC 2Này các Hiền giả, Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất… được ý suy tư. Tại đấy, vị ấy có thể không có tưởng. Tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng.
—Như thế nào, thưa Hiền giả Sàriputta, một Tỷ-kheo khi chứng được Thiền định như vậy, vị ấy có thể trong đất, không tưởng đến đất… được ý suy tư; tại đấy, vị ấy có thể không có tưởng; tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng?
—Ở đây, này các Hiền giả, Tỷ-kheo tưởng như sau… (như số 11.20 kinh trước)… tuy vậy, vị ấy vẫn có tưởng.
Bộ kinh nầy được dịch từ tạng Pali sang Việt ngữ năm 1976–1977, và được Viện Phật Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, ấn hành năm 1980–1981. Trong chương trình phiên dịch và ấn hành Ðại tạng kinh Việt Nam, bộ kinh được hiệu đính thành 4 tập và tái bản năm 1996, qua số thứ tự 21, 22, 23, và 24.
These texts have been used with the kind permission of the webmaster of http://www.budsas.net/
Prepared for SuttaCentral by Ayya Vimala.